Giải quyết hành vi trong lớp học hòa nhập

Học sinh khuyết tật thường có vấn đề về hiểu thông tin thu nhận từ môi trường và thậm chí từ chính cơ thể mình. Trẻ kém nhạy cảm thường giải quyết bằng cách có những vận động mạnh và sờ khắp để thu nhận thêm thông tin. Chúng có thể tìm kích thích liên tục hoặc các cảm giác mạnh hơn và lâu hơn bằng cách có những hoạt động quậy phá hoặc hoạt động luôn chân luôn tay.

PHẦN 1: CÁC VẤN ĐỀ VỀ VẬN ĐỘNG

 Khả năng học và chú ý của học sinh phụ thuộc vào khả năng tổng hợp và tổ chức thông tin thu nhận từ các giác quan. Chúng ta đều quen thuộc với năm giác quan cơ bản là thị giác, thính giác, vị giác, khứu giác và xúc giác. Nhưng có những giác quan khác không nhiều người biết đến trong đó có giác quan vận động và giác quan cảm nhận các cơ. Nếu học sinh không thể tổ chức các thông tin thu nhận từ các giác quan, sẽ có sự ùn tắc trong não trẻ, làm học sinh khó tập trung và học tập. Để học có chất lượng, các giác quan của chúng ta phải làm việc một cách nhịp nhàng với nhau.

Học sinh khuyết tật thường có vấn đề về hiểu thông tin thu nhận từ môi trường và thậm chí từ chính cơ thể mình. Trẻ kém nhạy cảm thường giải quyết bằng cách có những vận động mạnh và sờ khắp để thu nhận thêm thông tin. Chúng có thể tìm kích thích liên tục hoặc các cảm giác mạnh hơn và lâu hơn bằng cách có những hoạt động quậy phá hoặc hoạt động luôn chân luôn tay.

 Một số hành vi thường thấy ở những trẻ này là:

  • Tăng động hoặc tay chân bồn chồn, khi chúng đang tìm kiếm cảm giác
  • Kém nhạy cảm với tiếp xúc ở da hoặc chỗ đau, hoặc đụng chạm vào người khác quá nhiều hoặc quá mạnh (với người ngoài thì trẻ như vậy có vẻ quá xấn sổ)
  • Có những hoạt động không an toàn, như trèo quá cao, hoặc sử dụng những thiết bị một cách tùy tiện
  • Rất thích các âm thanh thật to như là nghe đài hay TV

HÀNH VI:CHẠY RA KHỎI CHỖ NGỒI

Một số học sinh có nhu cầu nhiều hơn trẻ thường phải được chạy quanh người khác. Chúng thường kiếm cớ để ra khỏi chỗ ngồi và chạy lòng vòng. Chúng có thể cần gọt bút chì mỗi tiếng vài lần, hoặc đi vệ sinh hoặc đi uống nước. Hoặc chúng có thể đi vòng quanh phòng học, giả vờ là đi tìm sách hoặc xem các bạn khác đang làm gì. Chúng có thể có hành vi không được dễ chịu với người khác lắm như là nhảy lên nhảy xuống, chạy gấp gáp, hoặc dậm chân. Tuy nhiên, nhưng học sinh ưa hoạt động này có thể chỉ đơn giản là đang cố thỏa mãn nhu cầu tìm cảm giác của mình.

GIẢI PHÁP

  • Giao việc vặt cho học sinh làm khi bạn ra khỏi lớp. Khi giáo viên bắt đầu thấy học sinh có biểu hiện bồn chồn không yên, giáo viên có thể sai học sinh mang thư cho giáo viên khác (tốt nhất là ở phòng khác hoặc tòa nhà khác)
  • Thư trong phong bì không có gì quan trọng cả và bạn cần dặn trước giáo viên kia là sẽ thỉnh thoảng có học sinh như vậy mang thư kiểu vậy đến. Nên khi giáo viên kia thấy học sinh sang thì cứ nhận thư và tiếp tục việc của mình
  • Hoặc có thể giao cho học sinh một công việc chân tay gì đó. Như mang sách từ góc này sang góc khác phòng học, dọn lại ngăn bàn, sắp xếp bài làm. Như vậy vừa làm được việc vừa thỏa mãn nhu cầu tìm cảm giác của học sinh.
  • Tùy theo độ tuổi của học sinh và theo tham khảo ý kiến của trị liệu viên về phục hồi chức năng, có thể cho trẻ mang vật nặng hoặc áo nặng để tạo áp lực sâu lên cơ thể trẻ, giúp trẻ bình tĩnh lại
  • Nếu có nhân viên trực ở sân chơi, có thể cho trẻ ra sân chơi xả đôi chút.

HÀNH VI: ÔM GHÌ,TỰA NGƯỜI VÀO BẠN, ĐẨY BẠN

Học sinh với các nhu cầu về cảm giác có thể cảm thấy có nhu cầu cần tựa vào người khác hoặc đẩy bạn hay đẩy đồ. Đây là các cố gắng để đáp ứng nhu cầu,trẻ có thể ôm ghì bạn tại thời điểm không phù hợp, hoặc cố gắng đẩy bàn học hay dậm chân trong khi đi. Đây còn gọi là đi tìm cảm giác áp lực sâu.Học sinh sử dụng hành vi này để cảm nhận “mặt đất” hoặc để tự trấn an.

GIẢI PHÁP

  • Cũng như với nhiều các vấn đề về giác quan khác, cho trẻ tạm nghỉ và cho trẻ hoạt động đi lại sẽ rất có ích cho trẻ.Cho trẻ làm các việc vặt mà trẻ đã quen thuộc như đi đưa giấy hay đi đưa sách và kết hợp với mục tiêu đáp ứng nhu cầu về giác quan của trẻ – hướng dẫn trẻ cách làm đúng.
  • Ở độ tuổi phù hợp, cho trẻ mặc áo nặng(loại áo có thêm các vật để tăng độ nặng của áo) để tạo ra cảm giác Áp lực sâu mà trẻ đang tìm kiếm.
  • Khuyến khích trẻ sử dụng các bài tập thể chất như móc tay, đẩy tay.
  • Nhắc nhở trẻ về các nguyên tắc xã hội – giữ khoảng cách với người khác. Một vài giáo viên sử dụng khái niệm: xung quanh mỗi người có một vòng bong bóng mà ta không nhìn thấy(có một vài người,vòng bong bóng này lớn hơn những người khác)
  • Sử dụng lời nói: đưa trẻ vật gì đó để trẻ nhai như kẹo cao su, kẹo cứng cũng giúp trẻ tự điều chỉnh bản thân.

PHẦN 2: HÀNH VI NÉ TRÁNH VÀ LẶP ĐI LẶP LẠI 

Ở phần trước chúng ta đã đề cập đến các yếu tố quan sát được đối với các học sinh có hệ giác quan kém nhạy cảm. Ở phần này, chúng ta đề cập đến những vấn đề được nhìn thấy ở trẻ có sự nhạy cảm thái quá. 

Trẻ có hệ xúc giác loại phòng vệ thường quá nhạy cảm với tiếp xúc ngoài da, điều này đã được khám phá bởi bác sỹ, chuyên gia phục hồi chức năng, Jean Ayers vào những năm 1960. Hệ thống thần kinh của những trẻ này cảm nhận quá mạnh và trẻ cảm thấy như thể ngay lập tức chúng bị oanh tạc bởi thông tin. Kết quả là trẻ thường có phản ứng “đấu tranh sinh tồn hay là bỏ chạy” đối với cảm giác – một trạng thái được gọi là “cảm giác phòng ngự”. Trẻ có thể sẽ cố tránh hoặc làm giảm thiểu các cảm giác bằng cách né tránh bị động chạm hoặc né tránh đặc biệt trong việc mặc quần áo và ăn các loại thức ăn.

 Các hoạt động đơn giản để giúp trẻ sẵn sàng đến trường – chải đầu, đánh răng, gội đầu, cắt móng tay – có thể làm cho gia đình trẻ kiệt sức vì trẻ có thể có những phản ứng phòng vệ bằng cách chống đối hoặc nổi cáu. Một vài trẻ khác có thể khăng khăng đòi mặc chỉ những quần áo với chất liệu nhất định, tất cả nhãn mác trên áo quần phải tháo bỏ, hoặc có thể chỉ ăn một vài món ăn nhất định bởi vì trẻ chỉ chấp nhận thức ăn có độ dai ròn nhất định. Tương tác xã hội có thể đặc biệt hạn chế bởi vì trẻ thu mình hoặc trẻ trở nên gây hấn/ tấn công lại khi bị động chạm theo cách trẻ không mong muốn.

 Những trẻ này có thể:

  •  Phản ứng với việc bị động chạm vào người bằng việc tấn công lại hoặc thu mình
  • Sợ các hoạt động cần di chuyển nhiều và sợ độ cao, hoặc bị say khi phải di chuyển hoặc ở trên độ cao
  • Cảm giác rất khó chịu và không sẵn sàng chấp nhận rủi ro hay thử những điều mới
  • Cảm giác khó chịu khi ở môi trường có tiếng ồn hoặc đông người như ở sân chơi, phòng ăn, lớp học hoặc khi tập trung toàn trường.
  • Ăn uống rất kén, chỉ ăn một vài loại thức ăn nhất định và/hoặc quá nhạy cảm với mùi thức ăn.

Chúng ta mỗi người có một hệ giác quan khác biệt. Một vài người trong chúng ta bị phân tán hoặc bị quá tải bởi tiếng ồn lớn, sự hỗn loạn thị giác, hoặc khi ai đó đứng quá gần. Thỉnh thoảng chúng ta bị buồn ngủ khi ngồi một chỗ trong khoảng thời gian quá lâu, như trong lúc nghe giảng bài. Chúng ta có thể gõ bút chì, dậm chân hay cho một mẩu kẹo cao su vào mồm một cách vô thức.

Điều khác biệt giữa chúng ta và trẻ khuyết tật hay trẻ khiếm khuyết hệ thần kinh trung ương là mức độ mất tập trung của trẻ bộc lộ ra bên ngoài cao hơn rất nhiều so với chúng ta bộc lộ ra, và trẻ lại thường sử dụng những chiến lược/ cách thức không phù hợp trong trường học.

Hành vi: Né tránh tiếp xúc cơ thể hoặc các hoạt động bày bừa.

Mai khi ở mẫu giáo tỏ ra là đứa trẻ ngoan trong lớp. Trong một giờ mỹ thuật, giáo viên nói là lớp sẽ vẽ bằng ngón tay. Khi cô giáo yêu cầu Ann cho tay vào lọ mầu, Ann từ chối. Khi cô giáo cố cầm tay Ann và ấn vào màu vẽ, Ann bất ngờ tức giận – đánh, đá và cào.

Chuyên gia trị liệu phục hồi chức năng Jean Ayers đã phát hiện ra hệ xúc giác loại phòng thủ, hoặc quá nhạy cảm với tiếp xúc ngoài da vào những năm 1960. Một trẻ với hệ giác quan loại phòng thủ thường có hệ thống thần kinh quá dễ bị khuấy động, không phân biệt được có những thông tin đầu vào không nguy hiểm, khiến cơ thể trẻ rơi ngay vào trạng thái “đấu tranh sống còn”. Các hành vi thường thấy ở trẻ có hệ xúc giác loại phòng ngự là gây hấn, tấn công bạn, né tránh, rút lui và gặp khó khăn trong các hoạt động hàng ngày.

Các phản ứng cảm xúc hay hành vi của học sinh đối với các tiếp xúc cơ thể nhất định có thể quá tiêu cực hay quá đà. Cùng những kích thích đó, những người khác lại không cảm thấy khó chịu gì. Học sinh với hệ xúc giác loại phòng thủ có thể không thích được ôm, sợ một số động chạm (nhẹ hay mạnh), hoặc cho tay vào hồ dính hoặc mầu sơn.

Giải pháp

  • Khuyến khích nhưng không ép trẻ phải tham gia
  • Cần linh hoạt tìm những giải pháp thay thế. Cho phép trẻ sử dụng keo dính hay băng dính thay vì hồ thông thường, hoặc dùng bút lông để vẽ thay vì dùng ngón tay. Tránh thúc ép trẻ; vì khi bị thúc ép, trẻ có thể bị “quá tải” và có phản ứng bạo lực hay sợ hãi.
  • Nếu trẻ khó chấp nhận các tiếp xúc cơ thể, cho trẻ ngồi ở vị trí đầu hoặc cuối dãy bàn, nơi trẻ giảm tối đa các tiếp xúc động chạm với các bạn khác. Đối với trẻ nhỏ, cho trẻ ngồi cạnh những bạn có tính cách điềm đạm.
  • Khuyến khích & củng cố để trẻ có những cố gắng vượt bậc khi tham gia, làm tăng khả năng chấp nhận cho hệ xúc giác qua thời gian.

Hành vi: Bịt tai

John đang ngồi học ở bàn trong lớp học thì chuông báo cháy kêu và tắt. John thét lên, bịt hai tai, và chạy ra khỏi phòng. Những hành vi tiêu cực (như là sợ hãi, rút lui, v.v..) đối với các âm thanh và tiếng ồn có thể là do trẻ có hệ thính giác loại phòng thủ. Một vài trẻ rất sợ hãi âm thanh phát ra từ máy hút bụi, máy cắt cỏ, máy sấy tóc, tiếng quét lá, máy dọn đường, còi báo động hay tiếng xả nước toilet. Đôi khi cha mẹ phải đợi khi trẻ không có đó mới dám dùng các thiết bị này. Vậy làm thế nào để trẻ đối mặt với bao nhiêu âm thanh ở trường học, như tiếng báo cháy, tiếng trống trường hay chuông báo, những thông báo trên loa và âm nhạc?

Vài học sinh biểu hiện sự khó chịu bằng cách vẩy tay cạnh tai, khó chịu và khóc. Tuy nhiên, ta có thể tiến hành các bước để giúp trẻ bớt căng thẳng trong các tình huống này.

Giải pháp

  • Nếu có thể thì báo trước cho trẻ sắp có tiếng động nào đó. Ví dụ, mọi giáo viên đều biết trước khi nào thì có tiếng trống hay tiếng chuông báo. Khi trẻ đã có sự báo trước hợp lý, nỗi sợ hãi hay bối rối do nghe thấy tiếng ồn sẽ được giảm đi, hoặc loại bỏ.
  • Nếu có thể (đối với trẻ nhỏ), sử dụng nút bịt tai hay dùng tai nghe có thể giúp trẻ làm việc độc lập và không bị phân tán bởi môi trường xung quanh.
  • Nếu trẻ gặp khó khăn đối với tiếng ồn ở giờ ăn trưa hoặc ở giờ tập trung, xem xét việc cho phép trẻ có chương trình thay thế. Ví dụ cho phép trẻ ăn ở văn phòng hay phòng RSP sẽ giúp làm giảm áp lực lên trẻ. Thường thì chỉ cần trẻ biết có lựa chọn khác là trẻ đã bớt áp lực.
  • Nghĩ trước việc cho trẻ làm khi có tiếng ồn. Ví dụ, khi tiếng trống bắt đầu hoặc khi chuông báo bắt đầu, nếu học sinh biết chính xác mình sẽ làm gì, học sinh sẽ có một nhiệm vụ cần phải hoàn thành. Vì vậy, trong khi bận rộn với công việc, tâm trí của trẻ sẽ không còn căng thẳng và rơi vào trạng thái “tìm đường thoát thân”.
  • Nếu hàng ngày, tiếng ồn náo nhiệt của lớp học càng trở nên khó khăn đối với trẻ, cho phép trẻ có thời gian nghỉ tách khỏi tiếng ồn. Có thể thực hiện theo nhiều cách, ví dụ: cho trẻ sử dụng tai nghe khi dùng máy tính, sử dụng nút bịt tai khi đọc. Điều quan trọng là cho phép trẻ có “không gian yên lặng” trong những thời gian này.

Hành vi: Trốn hoặc bỏ chạy khi thất vọng

Một học sinh nhìn vào hộp đồ ăn của mình, thấy thiếu một cái gì đó, trẻ chạy ra ngoài khóc. Học sinh trốn hay bỏ chạy khi trẻ thất vọng là đang thể hiện phản ứng “tìm đường thoát thân”. Những học sinh này có thể phản ứng với các sự kiện tưởng như rất bình thường do cuộc sống của trẻ là như vậy và trẻ gặp những khó khăn nhất định mà người ngoài chưa hiểu. Khi bị rối trí, kém khả năng giải quyết vấn đề, và dồn nén cảm xúc có thể gây ra phản ứng này. Điều này thường xảy ra khi trẻ đối mặt với những điều trẻ không mong muốn, hoặc với tính huống ngoài mong đợi của trẻ.

Khi có tình huống xảy ra, học sinh có thể có biểu hiện khác thường hơn so với trẻ khác. Trẻ đủ thông minh để biết nguyên tắc trong lớp, nhưng trẻ không muốn tuân theo nguyên tắc do tình huống xảy ra ngoài mong đợi của trẻ. Tình huống này đối với chúng ta có thể rất bình thường và không quan trọng, nhưng đối với trẻ tình huống này lại rất khó khăn. Đừng nhận định hành vi theo ý kiến chủ quan cá nhân mình, hành vi của trẻ thường là phản ứng vì nhận được quá nhiều kích thích. Phản ứng đầu tiên bạn nên làm là đưa trẻ ra chỗ khác nơi trẻ cảm thấy an toàn, để trẻ có thể “định thần” lại. Chỉ sau khi trẻ có đủ thời gian tự trấn tĩnh lại, trẻ mới có khả năng giao tiếp và nói ra sự căng thẳng/ nỗi niềm của trẻ. Cố gắng ép trẻ giao tiếp khi trẻ đang bị quá tải sẽ càng làm mọi việc trầm trọng hơn.

Giải pháp

  • Cho trẻ ở một mình có thể giúp trẻ lấy lại tinh thần. Không ép trẻ vào nơi đông người cho đến khi trẻ sẵn sàng quay lại. Cho phép trẻ có thời gian không tham gia cùng mọi người (trẻ vào văn phòng, thư viện, phòng tập hoặc bất cứ phòng nào được cho là “không gian an toàn” đối với trẻ) cho đến khi trẻ cảm thấy thoải mái hơn.
  • Cố gắng giúp học sinh “cháy hết” cơn xúc cảm do một sự kiện nào đó gây ra. Cho trẻ đi bộ hay cho trẻ ngồi xích đu có thể giúp trẻ.
  • Dùng những quy ước hoặc câu chuyện đã chọn lọc từ trước để giúp trẻ quay lại nhịp sinh hoạt. Khuyến khích trẻ làm theo kế hoạch đã định trước khi nào trẻ lại có những cảm giác tương tự.
  • Cố gắng tìm ra và dự đoán bao giờ tình huống như thế sẽ xảy ra. Theo kinh nghiệm, ví dụ bạn thấy rằng sự hỗn loạn trong giờ diễn tập cứu hỏa sẽ làm trẻ có phản ứng như vậy, bạn cần giúp trẻ có chuẩn bị cho sự kiện như vậy.

Trên hết, đứng để bụng hành vi của trẻ. Khi trẻ căng thẳng, trẻ có thể nói ra những điều không phù hợp mà thực sự trẻ không có ý đó.

Hành vi: Nằm gục xuống hoặc “đóng cửa với thế giới bên ngoài”

Một học sinh có thể tự thu mình, cô lập bản thân bằng cách nằm gục xuống hoặc đơn giản hơn là bằng cách “khép kín” bản thân. Trẻ có thể tự cô lập bản thân bằng cách tách riêng hoặc đọc sách ở thời điểm không phù hợp, hoặc bằng ngôn ngữ cơ thể – quay lưng lại với người khác. Đối với những trẻ chọn cách “tìm đường thoát thân” để đối phó với căng thẳng, trẻ có thể chọn cách tự tách riêng mình ra khỏi các bạn cùng lớp vì trẻ thiếu các kỹ năng xã hội. Nếu trẻ không có đủ khả năng để khởi đầu một câu chuyện, hội thoại hay kết bạn, “chọn” cách cô lập bản thân thường mang lại cho trẻ cảm giác thoải mái hơn. Những học sinh này thường làm việc rất chăm chỉ, không chỉ trong học tập, mà cả trong việc cố gồng đỡ các giác quan của mình, cố gắng ghi nhớ tất cả các “nguyên tắc” xã hội và phải học cách làm việc cùng với trẻ khác.

Giải pháp

  • Nếu học sinh nằm gục xuống hoặc dường như rơi vào trạng thái “khép kín” trong lớp học, hãy cho trẻ thêm thời gian để trẻ tự điều chỉnh bản thân. Sau đó bạn có thể tiếp cận trẻ và đưa trẻ trở lại cùng cả lớp.
  • Hãy nhớ rằng để trẻ một mình sẽ giúp trẻ tự hồi phục. Cho phép trẻ không tham gia hoạt động (văn phòng hoặc thư viện nơi có người để ý đến trẻ là nơi giúp trẻ thoát khỏi vấn đề khó khăn của trẻ hiện tại) cho đến khi trẻ sẵn sàng tham gia lại hoạt động.
  • Nếu trẻ đang tự cô lập bản thân vì trẻ không biết phải nói gì hoặc làm gì trong tình huống xã hội, trẻ có thể phải học qua câu chuyện xã hội để hiểu các nguyên tắc xã hội giúp trẻ tương tác với người khác. Hãy trao đổi với chuyên gia ngôn ngữ hoặc chuyên gia giáo dục đặc biệt để tìm hiểu về câu chuyện xã hội.
Rate this post

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.